Đăng bởi: Tịnh Tú | Tháng Năm 23, 2008

Thương người.. chịu khổ – Báo Giác Ngộ

Thương người.. chịu khổ

Không như một số tôn giáo khác, Đức Phật ra đời không phải để chịu khổ thay cho chúng ta, mà Ngài ra đời là để giúp cho chúng sanh thoát khổ. Nói như thế không có nghĩa là Ngài không chịu khổ. Một vị thái tử lớn lên trong cung vàng điện ngọc, lại từ bỏ tất cả để đến chốn rừng sâu tu hành khổ hạnh, hẳn nhiên đã phải chịu khổ muôn vàn.


Bàn chân Đức Phật tại Bồ Đề Đạo Tràng – Ảnh Đạo Phật Ngày Nay

Tôi đã đến Ấn Độ, đã lần theo hành trình xa xưa của Ngài… và chợt bật khóc bởi quá thương ngài – một người chịu khổ…

Ấn Độ ngày nay, xét trên nhiều khía cạnh, dường như không khác mấy so với Ấn Độ thời Đức Phật. Vẫn cái lạnh thấu xương, vẫn cái nóng nung người, vẫn những nhà tu và vẫn những bậc “đế vương” cùng những con người “hạ tiện”, nghẻo khổ, cùng quẫn, không thể ngóc đầu lên được.

Một buổi chiều ở Khổ Hạnh Lâm, ngồi một mình trong hang đá nhỏ, nơi xưa kia Bồ tát từng ẩn tu khổ hạnh, tôi không quán hơi thở, chỉ nghe xúc cảm của mình và chiêm ngưỡng dung nhan tiểu tụy pho tượng khổ hạnh. Trong hang tối, dưới ngọn ngọn nến vàng vọt, hình ảnh Ngài hiện lên uy nghi và khả kính. Gương mặt thật gầy với đôi mắt hõm sâu, lòng ngực trơ những đốt xương sườn, hai cánh tay khẳng khiu đặt lên đôi chân gầy vững chãi.

Trở về Bồ Đề Đạo Tràng khi đêm xuống, tôi yên lặng ngồi xuống bên gốc bồ đề xưa kia Bồ tát thành đạo. Đêm không yên ắng lắm bởi những tiếng tụng niệm, những bước kinh hành của nhiều Tăng Ni, Phật tử. Tôi thử tưởng tượng rằng mình ngồi bên Bồ tát – chỉ có tôi với Bồ tát – để thử cảm nghiệm những xúc cảm của Ngài giữa chốn núi rừng hoang vu vắng lạnh mấy nghìn năm về trước.

Nhưng than ôi, tôi không thể ngồi lâu được vì… muỗi. Muỗi xứ Ấn Độ có vẻ to khỏe, mỗi cú chích là mỗi cú giật nẩy người. Tôi nhìn quanh, thấy một vài người giăng chiếc mùng thiền – nhiều người ngồi như thế suốt đêm – lòng không khỏi áy náy, lại thương cho ngài quá. Một tấm thân gầy ốm giữa đoàn quân muỗi, thật khủng khiếp, nhưng hẳn Bồ tát chẳng bao giờ bị quấy nhiễu bởi những điều nhỏ nhặt ấy như tôi – hẳn nhiên!


Khổ Hạnh Lâm

Đi ngược về nơi Phật Niết Bàn. Trong ngôi điện là pho tượng Phật năm. Pho tượng xù xì nhưng thật có hồn. Nhiều người đã bật khóc khi quỳ xuống bên ngài. Dường như Ngài vẫn còn đó, mấy nghìn năm rồi, và mấy nghìn năm nữa! Tôi ứa nước mắt vì biết mình ra đời quá muộn. Nhưng nhìn dáng nằm đó, cứ có cảm giác rằng Ngài mới tịch đâu hôm qua thôi. Nghĩa là Ngài vẫn còn đó, bên con và bên tất cả mọi người.

… Lại một chiều ở Vệ Xá Ly, nơi xưa Đức Phật xác quyết ngày Ngài thị tịch. Những nền thiền thất vẫn còn đó mà Ngài đã đi rồi. Có lẽ lần cuối cùng ở một ngọn đồi nhỏ nào đó, trên đường về Câu Thi Na, Đức Phật đã quay lại nhìn vương thành Vệ Xá Ly lần cuối. Ánh nhìn điềm tĩnh, bao quát, như cái nhìn của voi chúa bao dung đối với bầy đàn. Đoạn đường từ Vệ Xá Ly đến Câu Thi Na khoảng 300 cây số. Lúc bấy giờ Đức Phật đã thọ bệnh, căn bệnh đã khiến cho thân thể – mà Ngài thường gọi là cỗ xe cũ 80 năm ấy – tiều tụy hẳn, song Ngài vẫn bước đi an nhiên, tự tại. Trên đoạn đường dài này, có thể hiểu được Ngài đã nhiều hôm nhịn đói do không có xóm làng…

Theo dấu chân Phật, kẻ hành hương không khỏi chạnh lòng, phần thì thương mình, phần thì thương Phật: thương mình phước bạc, thương Phật chịu khổ. May mà đoạn cuối hành trình, đến Lâm Tỳ Ni, kẻ hành hương như vẫn còn nghe hương thơm, chim ca, hoa nở. Dấu chân người vẫn còn đó, in đậm trên phiến đá, như minh chứng một con người thật đã từng xuất hiện, đã từng chịu khổ để đem lại sự an lạc cho tất cả chúng sanh…

Thiện Hưng
Nguồn: Báo Giác Ngộ – Số 433
phatphap.wordpress.com

Đăng bởi: Tịnh Tú | Tháng Một 9, 2008

Đến Kushinagar thăm vườn ươm Phật giáo

Đến Kushinagar, vào nghỉ tại chùa Kinh Sơn, tôi không khỏi ngạc nhiên khi trông thấy vài chục chú điệu người Ấn đang tụng kinh tại chánh điện với lời kinh Pàli cùng với một số bài sám quen thuộc bằng tiếng Việt. Hỏi ra mới hay các chú chính là đệ tử của Ni sư TN. Tự Thuận, trụ trì ngôi chùa Việt Nam duy nhất tại vùng dết linh thiêng này .

Hiện chùa có đến 35 chú điệu, đều là người Ấn, ngoại trừ một chú nhỏ bốn tuổi cùng ba mẹ sang công quả, nằng nặc đòi Ni sư xuống tóc để cung các chú tu học. Ni sư cho biết, các chú phần lớn là con của một số Phật tử nghèo tại Kushinargar, bang Uttar Pradesh và một số tiểu bang khác tại Ấn Độ.

Ni sư Trí Thuận là người Việt Nam đau tiên trên đất Phật giáo hóa được một số đệ tử ngươi Ấn đông như thế. Tại khuôn viên chưa, Ni sư còn kết hợp với chín quyền sở tại mở một trường học gồm 420 học sinh lớp một đến lớp tám với 16 giáo viên chính và là 12 giáo viên phụ. Lương bổng và mọi chi phí trường lớp do Ni sư tự tay chi trả. Học sinh của trường ngoài việc học giáo trình chính thức do nhà nước quy định bằn tiếng Hindu và tiếng Anh, còn có cả những giờ học Việt và giáo lý do chính Ni sư giảng dạy. Ngoài ra, Ni còn mở một phòng khám miễn phí tại chùa và kết hợp với một số tổ chức khác mở thêm nhiều lớp học từ thiện cho trẻ em nghèo ấn Độ.

Phụ giúp Ni sư trông coi các chú còn có một vị sư trẻ người Ấn và một Sư cô người Malaysia. Cả hai đi tu theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng song vẫn hướng dẫn và cùng các chú tụng kinh theo nghi thức của chùa do Ni sư soạn (tụng kinh, niệm Phật bằng Kushinagar; chùa nghèo, lại tiếp nhận một số trẻ Ấn mồ côi và trẻ em thuộc những gia đình Phật tử khó khăn nên thường được Ni sư “tiếp tay” giúp đỡ. Sau một thòi gian, thầy quyết định đưa các em sang chùa Linh Sơn, nơi Ni sư trụ trì, để các em có điều kiện học tập. Ni sư đã tiếp nhận các chú, làm lễ thế phát quy y và mời vị sư Ấn đến ở và trông coi các chú. Còn vị sư cô người Malaysia vốn có duyên với ni sư, muốn đến để cùng Ni sư chăm lo cho những mầm non Phật giáo trên đất Ấn và tu tập tại vùng đất linh thiêng này. Được cả hai đồng tâm giúp đỡ, Ni sư yên tâm phần nào vì phải thường xuyên công tác Phật sự ở xa.

Khi được hỏi Ni sư dạy dỗ, hướng dẫn các chú bằng cách nào, Ni sư vui vẻ cho biết: “Tôi trò chuyện với chú bằng tiếng anh. Những vấn đề phức tạp dĩ nhiên phải nhờ đến vị sư người Ấn. Sư ở cùng với các chú, thể hiểu và giúp đỡ các chu nhiều hơn”. Thức dậy vào lúc 5 giờ sáng, 5g30 thể dục, 6g các chú đồng lên chánh điện tụng thời kinh sáng kéo dài đến 7g, sau đó điểm tâm và đến lớp. Sau giờ cơm trưa các chú nghỉ ngơi, học hành, dùng cơm chiều và tiếp tục tụng thời kinh tối. Giờ cơm, các chú xếp hàng ngay thẳng lần lượt được vị Sư cô người Malaysia múc cơm và thức ăn vào chiếc đĩa lớn; mỗi chú còn có một bình nước và một cái ly riêng, ăn xong ai nấy phải tự rửa đĩa. Trước mỗi bữa ăn, các chú đồng niệm danh hiệu Phật và sau đó hồi hướng đều bằng tiếng Việt với chất giọng lơ lớ nghe rất vui tai.

Mặc dù một tay coi ngó toàn bộ việc chùa, việc và rất nhiều Phật sự khác, Ni sư vẫn tự đi chợ mua thức ăn và bánh trái cho các chú. Bữa ăn của các chú khá đầy đủ, hơn hẳn nhiều ngôi chùa quê ở Việt Ni sư Trí Thuận gốc người Quảng Trị, định cư tại Mỹ và xuất gia tại Pháp với bổn sư là HT.Thích Huyền Vi – năm 1989, Ni sư được Hòa thượng bổn sư dạy sang đất Ấn để làm Phật sự, trông coi và phát triển ngôi chùa tại vùng đất xa xôi này.

Chùa Linh Sơn nguyên có tên là Song Lâm tự, do người Hoa sáng lập. Vì không có người trông coi, ngôi chùa đã được hiến cúng lại cho Hòa thượng Huyền Vi và Ni sư là người có duyên nhất trong số những đệ tử của Hòa thượng nên được bổ xứ tại đây. Ngay khi đến đất Phật, Ni sư đã cho người tu bổ lại chùa, dựng tượng Bồ tát quán Thế âm, xây dựng Tăng xá và vườn Thánh tích, mô phỏng những ngôi chùa, tháp của Tứ động tâm ngay trong khuôn viên chùa. . .

Những ai từng đến xứ Ấn, ắt có thể hình dung được rất nhiều khó khăn mà Ni sư đã, đang và sẽ đối diện, từ thủ tục xây dựng chùa và trường học, những giấy tờ cần thiết cho các chú điệu cho đến những sự chống đối ra mặt hay ngấm ngầm của những người Ấn vốn theo đạo Hin du bởi họ sợ Ni sư “dụ dỗ” dân làng theo Phật. Dù vậy, ngoài các chú điệu, Ni sư cũng đã giáo hóa được một số nam, nữ cư sĩ. Họ theo Ni sư từ buổi đầu, nay một vài người đã ra làm việc
cho các cơ quan hành chính nhà nước song vẫn thường xuyên đến chùa công quả.

Trở lại vấn đề chăm lo cho mầm non Phật giáo tại đất ấn, Ni sư tâm sự: “Tôi không nghĩ rằng mình có thể giáo hóa được tất cả các chú trở thành Tăng tài. Uớc nguyện của tôi là trong số các chú sau này vẫn còn được vài ba người tiếp tục con đường tu hành. Thực tế khi ở chùa, các chú được học hành và được chăm lo tốt hơn rất nhiều so với ở nhà, song một số cha mẹ của các chú, khi kinh tế khá giả hơn một chút, họ đã đến chùa để xin con về. Các chú học xong tiểu học, nếu có chí nguyện, tôi sẽ gửi các chú qua các nước khác như Mỹ, Thái Lan, Malaysia hay Việt Nam để tiếp tục tu học. Bởi chính các chú mới thực sự có nhiều thuận duyên trong việc đem ánh sáng Chánh pháp trở về lại xứ ân”.

Như vậy, để ươm những mầm non Phật giáo trên đất Phật, thiết nghĩ, cũng không thực dễ dàng, do Phật giáo hầu như vắng bóng trên chính quê hương của mình quá lâu.

Ngày nay, quý Phật tử có thể viếng thăm Linh Sơn tự theo các toái hành hương chiêm bái Phật tích hoặc có thể tự đến Kushinagar bằng nhiều phương tiện. Kushinagar thuộc tiểu bang Uttar Pradesh, còn có tên cổ là Kushinara. Đây là một tiểu vương quốc trong 16 vương quốc thời cổ đại Ấn độ.

Lúc còn tại thế, Đức Phật vẫn thưởng băng qua những vùng đồng bằng bụi bặm của lưu vực sông Hằng, thọ nhận những bữa ăn đơn sơ do Phật tử dâng cúng và an cư trong suốt những tháng mùa mưa. Vào năm 543 trước Tây lịch, tại ngôi làng Beluva gần thành Vaishali, Đức Phật đã thuyết về sự vô thường của vạn pháp và tuyên bố rằng ngày Niết bàn của Ngài sắp đến. Từ giã Vaishali, Đức Phật bắt đầu cuộc hành trình dài 280km, hướng về ngôi làng Pava, Kushinagar. Nơi đây, Ngài đã thọ nhận bữa ăn cuối cùng của bác thợ rèn Cunda và nghỉ tại rừng cây sala bên bờ sông Hiranyavati. Vùng quê nghèo nàn, hẻo lánh thường bị ngập nước vào mùa mưa này ngày nay đã được cả thế giới biết đến, đơn giản chỉ vì Đức Phật đã chọn nơi này để vào Đại bát Niết bàn.

Nguồn: Tuần Báo Giác Ngộ – Số 410

Ký sự của Huỳnh Ngọc Chênh – Thanh Nien
Tôi cùng đoàn du khách Việt Nam vượt qua biên giới phía bắc Ấn Độ để đến Nêpal vào một buổi tối. Xuất phát từ kinh thành Xá Vệ từ lúc 1 giờ trưa nhưng mãi đến 8 giờ tối mới đến được cửa khẩu vì xe đi lạc đường. May mắn thay, chúng tôi đến những phút làm việc cuối cùng trong ngày của công an cửa khẩu của cả hai bên. Chúng tôi kịp thời làm giấy tờ để cả đoàn qua được cửa khẩu trót lọt và về đến khách sạn an toàn.

Nước Nêpal hiền hòa nằm dưới chân dãy Hymalaya huyền thoại chào đón chúng tôi bằng buổi bình minh tươi đẹp. Sau khi ăn sáng chúng tôi đi bộ đến vườn Lâm Tỳ Ni ở bên kia đường, đối diện với khách sạn mà chúng tôi ở lại qua đêm.

Mới sáng sớm đã thấy hàng trăm du khách và phật tử từ khắp năm châu có mặt trong vườn Lâm Tỳ Ni. Chỗ này là nhà sư Tây Tạng vạm vỡ trong áo cà sa màu đỏ đang cùng những phật tử của mình thực hiện những nghi lễ tôn giáo dưới gốc cây bồ đề bên cạnh hồ nước mà hoàng hậu Maya đã tắm trước khi hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa. Chỗ kia là các nhà sư Nhật Bản trong sắc phục màu đen đang ngồi thiền trước trụ bia của vua A Dục dựng lên ghi lại Phật tích. Dưới tán cây vô ưu râm mát, nơi hoàng hậu Maya với lên hái một cành hoa trước khi lâm bồn, là nhà sư Thái Lan đang ngồi giảng kinh cho các đệ tử của mình. Hàng trăm nhà sư và du khách khác thì đang xếp hàng chờ vào xem tảng đá mà vua A Dục đặt đánh dấu chính xác chỗ hoàng hậu lâm bồn.

Sách Đại Đường Tây Quốc Ký của ngài Huyền Trang ghi lại rằng vương quốc của vua Tịnh Phạn có chu vi chừng 4.000 lý (1.880 km2). Cách đây 2.600 năm, vào năm 563 trước công nguyên, khi sắp đến ngày lâm bồn, hoàng hậu Maya Devi, vợ vua Tịnh Phạn, xin phép nhà vua cho bà rời hoàng cung trở về quê nhà để sinh con đầu lòng theo đúng phong tục và truyền thống xứ này. Khi rời khỏi kinh thành chừng 25 cây số, ngang qua khu vườn tại làng Lâm Tỳ Ni, thái tử Tất Đạt Đa, người sau này trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni đã giáng trần dưới gốc cây vô ưu trong khu vườn xinh đẹp này.

Phật tích quan trọng đó sẽ bị quên lãng nếu như sau đó 300 năm không có một vị vua sùng đạo là A Dục (Asoka) cho đặt trụ đá cao ghi lại sự tích ra đời của Phật Thích Ca cũng như đặt viên đá xác định chính xác vị trí chào đời của đức Phật. Rồi khoảng 1.000 năm sau vào thế kỷ thứ năm nhà sư Pháp Hiển rồi tiếp theo sau đó là nhà sư Huyền Trang đã đến địa điểm này và nhìn thấy trụ bia và viên đá của vua A Dục còn tồn tại.


Nhưng sau đó thì chiến tranh, rồi sự tàn phá của giặc giã, vườn Lâm Tỳ Ni hoang tàn, trụ bia và viên đá bị ngã đổ và chôn vùi xuống lòng đất mãi đến thế kỷ thứ 19 mới được giới khảo cổ khai quật lên và dựng lại như cũ. Tuy nhiên ngày nay, vườn Lâm Tỳ Ni thuộc vào vương quốc Nêpal với dân chúng ở chung quanh không còn là phật tử nữa. Vườn bị bỏ hoang phế, điêu tàn.

Nhà sư Việt Nam Thích Huyền Diệu năm 1969 đã đến hành hương kể lại rằng: Lần đầu tiên, khi đặt chân đến đây chiêm bái, tôi thật sự bàng hoàng. Cảnh quan vùng đất thiêng thật điêu tàn, chung quanh trụ đá thánh tích kỷ niệm nơi Đức Phật đản sinh bị người dân phóng uế bừa bãi. Tôi buồn rầu đi quanh nơi này lòng thầm khấn nguyện, nếu quả thật đây là nơi linh thiêng và đúng là chỗ Phật đản sinh thì xin cho tôi được nhìn thấy thánh địa phát triển trước khi nhắm mắt từ giã cõi đời.

Lời phát nguyện đó như một nghiệp duyên nào đó sau này đã gắn phần còn lại cuộc đời của ông vào vùng Phật tích quan trọng này.

Kể từ đó, đi bất cứ nơi nào trên thế giới để thuyết giảng kinh Phật cũng như các môn học khác ông đều nhắc lại tâm nguyện này với các đệ tử của ông. Trong hầu hết các bài thuyết giảng, ông đều mang Lâm Tỳ Ni của Phật giáo ra so sánh với các thánh địa Mecca, Vatican, Benares, và Jerusalem của lần lượt các tôn giáo: Islam, Thiên Chúa, Hindu và Do Thái giáo.

Và nhân ông gieo ra, đã gặt được quả: năm 1993 khi ông đang dốc sức xây chùa Việt Nam Phật Quốc tự tại Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ thì có một nhóm đệ tử của ông bay đến mời ông qua Nêpal yết kiến nhà vua của nước này để nhận đất xây chùa gần vườn Lâm Tỳ Ni như nguyện ước của ông.

Nhà vua cho phi công chở ông bay trên vùng trời Lâm Tỳ Ni để chọn đất. Ông nhận 2 mẫu đất và quyết tâm ở lại đó xây chùa dù lúc đó trong túi ông chỉ còn vỏn vẹn 60 đô la.

Và ngôi chùa quốc tế đầu tiên tại thánh địa Lâm Tỳ Ni ra đời, mở đầu cho hàng loạt các ngôi chùa quốc tế khác lần lượt mọc lên. Vương Quốc Thái Lan xây một ngôi chùa toàn một màu trắng tinh khiết tuyệt đẹp, Trung Quốc thì một ngôi chùa hùng vĩ theo mô típ Thiếu Lâm tự, Nhật Bản xây đại tháp hòa bình cùng với một thư viện và viện bảo tàng mang tầm vóc quốc tế, Hàn Quốc thì có cả một chương trình quy mô nhằm xây dựng một tu viện to lớn với chánh điện chứa tới 4.000 người. Rồi chùa của Bangladesh, Tây Tạng, Butan, Tích Lan, Mông Cổ… và cả của Đức, Pháp nữa.

Khi đến nơi này, chúng tôi đếm được khoảng 22 ngôi chùa đã và đang mọc lên. Những ngôi chùa này tuy được cấp đất và khởi công sau Việt Nam Phật Quốc tự của thầy Huyền Diệu nhưng phần lớn nhờ vào ngân sách của quốc gia nước đó nên đã hoàn thành trước và quy mô hoành tráng hơn.

Nhờ vậy mà Lâm Tỳ Ni ngày nay càng lúc càng trở nên hưng vượng đến mức không ngờ, ngay cả quốc vương Birendra của Nêpal khi còn sống cũng đã kinh ngạc trước sự phát triển nhanh chóng một cách thần kỳ của vùng thánh địa này.

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục