Đăng bởi: NT | Tháng Chín 12, 2007

Chùa Việt Nam trên đất Phật

Xứ Phật trải rộng từ Nêpal qua 2 bang Uttar Pradesh và Bihar phía bắc Ấn Độ. Thời Phật giáo hưng thịnh, dân chúng ở đây đều là phật tử. Nay trải qua bao cuộc chiến tranh rồi bị người nước ngoài xâm chiếm, Phật giáo suy tàn, tăng chúng bị tiêu diệt, đền đài, chùa chiền bị đốt phá.

Trường đại học Nalanda là trường đại học Phật giáo đầu tiên trên thế giới ra đời cách đây trên 2.000 năm, giảng dạy các môn: Phật học, Thiên văn, Thần học, Luận lý, Y học…, thu hút sinh viên không chỉ của Ấn Độ mà còn nhiều nơi khác đến, kể cả từ Trung Quốc.

Đã có 13 học viên người Trung Quốc và Triều Tiên theo học tại trường này, trong đó có hai thầy Pháp Hiển và Huyền Trang từng đến đây nghiên cứu, học tập và được ở lại giảng dạy một thời gian dài. Nơi đây chứa toàn bộ kinh Phật và các sách vở quan trọng về y học, thiên văn, luận lý… Rồi giặc đến, trường bị đốt cháy, cháy suốt trong ba tháng trời mới dứt. Cả một kho tàng khổng lồ tri thức cổ đại của Ấn Độ và của thế giới biến thành tro.

Ngày nay, phần lớn dân chúng ở trong xứ Phật là người theo đạo Hindu và đạo Hồi. Các thánh tích bị bỏ hoang phế nếu như không có những người con của Phật từ khắp bốn phương trời lần lượt tụ về xây chùa, truyền đạo và ra sức bồi bổ. Trong sự trở về đó có sự đóng góp không nhỏ của các phật tử Việt Nam, đến từ Việt Nam và đến từ nhiều nước trên thế giới.

Đầu tiên là thầy Huyền Diệu đến từ nước Pháp. Năm 1987, thầy về Bồ Đề Đạo Tràng (Bohgaya) là nơi có cây bồ đề mà Phật Thích Ca ngồi thiền định 49 ngày rồi thành chính quả để xây ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự đầu tiên tại đây. Chùa nằm trên một khoảnh đất rộng giữa cánh đồng thoáng đãng vào lúc thầy khởi công, nay thì chùa đã khánh thành và xung quanh khoảnh đất chen kín các công trình khác.

Chùa có cổng tam quan, có chính điện với mái ngói cong mềm mại theo như mô-tuýp của các ngôi chùa Việt Nam. Các trướng đối trong chùa, thầy Huyền Diệu không dùng chữ Nho mà dùng chữ Quốc ngữ để ai cũng có thể đọc được.

Tại vùng Bohgaya, hiện chen cánh cùng các chùa quốc tế từ khắp nơi trên thế giới có đến 4 ngôi chùa Việt Nam. Đó là Việt Nam Phật Quốc tự của thầy Huyền Diệu, chùa Độ Sanh của một nhà tu Mỹ gốc Việt, chùa Viên Giác của một nhà tu Đức gốc Việt và Tịnh xá Kỳ Hoàn của thầy Thích Giác Viên đến từ Vũng Tàu.

Tôi gặp thầy Thích Giác Viên tại Trung tâm Thiền quốc tế gần Bohgaya và nghe thầy kể chuyện. Năm 2004, thầy qua đây hành hương rồi đi thăm dân tình xung quanh thấy người dân còn quá nghèo khổ, Phật tử hầu như không có ai, chỉ có vài sư tăng người Ấn thì sống ẩn dật không có chùa chiền để tu hành và phát huy đạo pháp. Thầy quá đau lòng, vào lạy dưới gốc bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng mà phát nguyện sẽ qua đây thường xuyên, mỗi lần 6 tháng để làm công quả.

Từ đó, thầy thường qua lại, đi về các làng nghèo giúp đỡ người dân, giúp họ khoan giếng, đắp đường, xây trường cho trẻ em đi học… Dần dà chính quyền địa phương cấp cho thầy một miếng đất để thầy xây một tịnh xá. Đó là Tịnh xá Kỳ Hoàn. Có tịnh xá rồi thầy tiếp tục giúp đỡ và vận động dân làng quy y đạo Phật. Thầy cho biết đến nay đã có được 12 làng theo về với đạo Phật.

Vào năm 1993, lúc Việt Nam Phật Quốc tự ở Bohgaya vẫn còn đang dang dở, thì thầy Huyền Diệu được học trò đến rước bay qua Nêpal ra mắt quốc vương xứ này. Tại đây thầy được nhà vua cho máy bay riêng chở đi đến vùng Lâm Tỳ Ni là nơi Đức Phật đản sinh chọn đất để xây chùa. Việt Nam Phật Quốc tự thứ hai ra đời và là chùa quốc tế đầu tiên được xây dựng tại thánh tích Lâm Tỳ Ni.

Lâm Tỳ Ni thời đó còn hoang sơ vắng vẻ, nghĩ rằng chỉ một ngôi chùa Việt Nam “không đủ làm nên mùa xuân”, thầy Huyền Diệu nghĩ đến việc vận động các giáo hội Phật giáo từ nhiều quốc gia khác đến xây chùa để Lâm Tỳ Ni nhanh chóng phát triển lên đúng với tầm cỡ là khu thánh tích của một tôn giáo lớn. Thầy Huyền Diệu với tư cách Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo thế giới đã đi khắp nơi vận động. Rồi ước nguyện lẫn công sức của thầy đã được đền đáp. Tính đến nay đã có 22 ngôi chùa quốc tế khác mọc lên tại đây góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của Phật tích Lâm Tỳ Ni.

Ở nơi đức Phật nhập diệt, tôi đã đến thăm chùa Linh Sơn của ni cô Trí Thuận (quốc tịch Mỹ). Ngay trong khuôn viên chùa là một ngôi trường tiểu học khá khang trang. Học sinh mặt đồng phục sạch đẹp, đang trong giờ chơi chạy nhảy khắp sân chùa nhưng rất ngoan ngoãn, không hề quậy phá. Qua tìm hiểu tôi biết được trường do nhà chùa xây nên, thầy cô được mời về dạy theo chương trình giáo dục của Ấn Độ, học sinh được học miễn phí.

Ở Vaishali, nơi Phật cho bà Kiều Đàm là dì của mình cùng 500 cung nữ quy y, thì có chùa Kiều Đàm Di do ni cô Khiết Minh ở Q.4, TP.HCM sang xây dựng. Đây phải nói là ngôi chùa Việt Nam quy mô lớn và xinh đẹp nhất được xây dựng ở Ấn Độ. Chùa còn đang trong quá trình thi công khi tôi ghé sang đây.

Lúc đó đã hơn 9 giờ tối, công trường xây dựng được thắp điện cao áp sáng trưng, thợ đang thi công tất bật. Ni cô Khiết Minh kể: “Lúc quyết định qua đây xây chùa tôi chỉ có 10 ngàn đô la, nay chùa làm được quá nửa rồi và đã tốn đến 600.000 đô la”. Tôi hỏi khi hoàn tất thì hết tất cả bao nhiêu, ni cô nói khoảng trên dưới 1 triệu đô la. Đó là tiền cúng dường của thập phương Phật tử từ trên khắp thế giới.

Cùng với việc xây chùa, các tu sĩ Việt Nam còn tích cực tham gia vào các hoạt động giúp đỡ người địa phương. Ni cô Khiết Minh thường xuyên giúp đỡ cho trẻ con trong làng về chuyện học hành. Thầy Giác Viên giúp dân làng đào giếng, xây trường học, mời thầy về dạy cho các em. Ni cô Trí Thuận xây trường học ngay trong khuôn viên chùa.

Thầy Huyền Diệu thì vận động xây cho dân làng ở Lâm Tỳ Ni một cây cầu bắc qua sông. Thầy kể cầu chỉ xây tốn chừng 35.000 USD, thế mà Phật tử khắp thế giới gửi về ủng hộ đến hơn 90.000 USD. Tiền dư thầy phải gửi trả lại cho từng người. Thầy còn vận động người dân quanh vùng bảo vệ chim hạc là giống chim quý hiếm ghi vào Sách đỏ. Nhờ vậy mà hồng hạc Himalaya về khu vực Lâm Tỳ Ni ngày càng nhiều, đến nay đã được gần 70 con.

Vùng đất Phật có thời tiết khá khắc nghiệt, mùa lạnh xuống đến dưới 10 độ, mùa nóng thì có nơi lên đến 56 độ. Đời sống thì khó khăn, thiếu thốn nhiều bề. Thế nhưng tôi gặp rất nhiều người Việt Nam đến đây: hành hương, tham quan vài ngày, làm công quả vài tháng, hoặc ở lại hẳn để truyền đạo, xây chùa…

Tôi hỏi tại sao? Hầu như tất cả đều có một câu trả lời: Nghiệp duyên! – Thanhnien


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: